Icon Collap
...
Trang chủ / Tại sao tôi tin vào Thiên Chúa?

Tại sao tôi tin vào Thiên Chúa?

Gia đình con là một gia đình không có đạo, gia đình con chỉ thực hiện tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, nhưng với những truyền thống tổ tiên để lại và trải nghiệm trong cuộc sống của gia đình thì gia đình con cũng thường xuyên cúng bái và đi lễ chùa. Riêng với bản thân con với những gì đã chứng kiến, ví dụ như: ở làng con có một ngôi miếu, trước ngôi miếu bị mưa bão làm đổ lâu ngày chắn lối đi vào miếu của mọi người. Khi mọi người trong làng có ý định tu sửa miếu và chặt bụi tre đó đi, thì đêm hôm đó bụi tre tự nhiên dựng thẳng đứng lên như chưa từng bị đổ. Rồi đến chuyện con có một người bạn, bố bạn ấy bị ma nhập (gia đình và mọi người xung quanh nói như vậy), khi gia đình bạn con mời thầy cúng đến để trừ tà ma thì bố bạn ấy chạy bằng cả 4 chi trốn ở trong gầm cầu thang và liên tục xin tha… Qua những điều đó thì bản thân con tin rằng có một thế giới mai hậu khi con người ta chết đi, nhưng nó như thế nào thì con không thể lý giải được, như chuyện bụi tre tự dựng đứng, con thấy rằng có một thế lực nào đó đã thực hiện việc này mà con không thể giải thích được. Rồi đến chính bản thân con, khi ngủ ở phòng trọ con thường mơ thấy nơi con ở có 1 người phụ nữ trẻ tuổi treo cổ tự vẫn và thường đi lại trong phòng (rất nhiều lần như vậy). Chính vì vậy con thường tìm đến chùa nhiều hơn với mong muốn tâm hồn được thanh thản con đã từng có ý định quy chùa (gia nhập phật giáo).

Khi con gặp bạn con bây giờ – một người có đạo, đối với con thì theo đạo nào là lựa chọn của mỗi người không có ai có quyền phán xét họ theo đạo nào là đúng hay sai, nhưng từ nhỏ khi con ngồi trên ghế nhà trường (từ tiểu học cho đến hết đại học) con đã nghe thấy rất nhiều điều không tốt về đạo công giáo như: đạo công giáo là đạo phản khoa học (vì đi ngược lại với thuyết tiến hóa…), những vụ xét xử những nhà khoa học trong quá khứ vì không nghe theo những tín điều của đạo công giáo (ví dụ: galileo…), người công giáo thiếu hiểu biết, theo đạo cách mù quáng nên họ thường bị kích động và bị các thế lực thù địch lợi dụng để thực hiện mục tiêu chống lại nhà nước, chống lại chính quyền (ví dụ: vụ những người theo đạo ở Tây Nguyên bị thế lực thù địch lôi kéo chống nhà nước, chống chính quyền; vụ đất đai ở tòa khâm sứ; vụ giáo xứ Thái Hà), các điều này con được nghe qua lời của các thày dạy chính trị tại trường đại học nơi con học, và qua một số bạn bè của con. Chính vì vậy thái độ của con khi ban đầu tiếp xúc với một người có đạo (bạn con) với một thái độ hết sức dè chừng. Nhưng khi tìm hiểu và hiểu hơn về bạn con, con đã mạnh dạn tâm sự với anh ấy những suy nghĩ và thắc mắc của mình về những điều lạ xảy ra (bụi tre tự dựng đứng, người bị ma nhập…) và được anh giải thích một cách thích đáng. Con bắt đầu muốn tìm hiểu về đạo và những người theo đạo công giáo.

Con được biết bạn con hay đi lễ nhà thờ, con đã chủ động xin anh cho con đi cùng để con có cơ hội tìm hiểu rõ hơn về đạo công giáo. Khi đến nhà thờ, con có rất nhiều thắc mắc như: tại sao người ta lại theo đạo công giáo? Tại sao người ta lại tin vào Thiên Chúa đến vậy? Lẽ ra ngày Chủ nhật người ta có thể ở nhà nghỉ ngơi hoặc đi chơi đâu đó, nhưng tại sao người ta lại đến Nhà thờ rất là đông để tham dự một buổi lễ, rồi ăn một miếng bánh…và những điều đó dần được dần được giải thích khi con quyết định dấn thân tìm hiểu về đạo Công giáo và Thiên Chúa của họ.

Bạn con đã đăng ký cho con tham gia một lớp học Giáo lý dự tòng ở nhà thờ Thái Hà, khóa học dành cho những người không có đạo mà muốn tìm hiểu về đạo. Con cũng bắt đầu học cách đọc kinh, đọc Kinh Thánh, làm dấu giống như những người bên đạo Công giáo và đi nhà thờ thường xuyên vào mỗi Chủ nhật hàng tuần. Mỗi lần đi nhà thờ và dự một Thánh lễ con cảm thấy mình thực sự thanh thản, tuy chưa chính thức trở thành một người có đạo nhưng con cũng rất muốn được ăn bánh và rước Mình Thánh Chúa, nhưng bạn con đã giải thích những người chưa theo đạo thì chưa được phép rước Mình Thánh Chúa, vì Mình Thánh Chúa chỉ dành cho những người theo đạo và chỉ những người trong sạch mới được rước. Khi rước Mình Thánh Chúa tức là mình hòa hợp lên một với Thiên Chúa, Chúa sẽ nuôi dưỡng tâm hồn mình. Con cũng bắt đầu học cách cầu nguyện để xem Thiên Chúa có lắng nghe lời cầu xin của những người chưa theo đạo hay không? Trong một lần con đi lễ tại đền thánh Phê rô Lê Tùy cùng với gia đình bạn con, con đã cầu nguyện một vài điều cho gia đình của con và con cảm nghiệm được những gì Thiên Chúa đã đáp lại lời cầu nguyện của con, con thực sự cảm thấy hạnh phúc khi Chúa đã lắng nghe lời cầu của con. Rồi số lần con đi nhà thờ thưa dần vì tình hình sức khỏe, có lần con đã đến nhà thờ rồi mà con không thể tham dự trọn vẹn một Thánh lễ vì cơ thể quá mệt mỏi hoặc khi bình thường con không có vấn đề về sức khỏe nhưng khi đến giờ đi lễ, con cảm thấy rất mệt, không thể bước đi được. Rồi con hay bị bóng đè trong khi ngủ, những lần như vậy con lại đọc trong đầu những kinh mà con thuộc để thoát khỏi tình trạng đó. Khi con gặp cha để học giáo lý, cha nói với con là con đi học đạo cần đeo cây Thánh Giá để không bị làm phiền, không hiểu sao lúc nghe lời đó trong lòng con vui đến muốn khóc và con đã hiểu điều gì đang xảy ra với mình trong thời gian qua.

Con đang trên con đường đến với Thiên Chúa và tìm hiểu về Người từ đó để khẳng định con tin vào Thiên Chúa.

Theo con tin là đón nhận điều đó là sự thật, chấp nhận thực tại mà mình chỉ hiểu biết được một phần, ngoài ra tin còn là nỗ lực thực thi và sống theo những gì người đó đã tin.

Khi tìm hiểu về đạo công giáo, con thấy đây là một đạo khác hoàn toàn những gì mà con được nghe được biết trước đây như: người ta nói đạo công giáo là tin vào những điều huyễn hoặc vớ vẩn, không có thật, mê tín dị đoan, phản lại khoa học… theo con nghĩ những điều đó hoàn toàn không đúng vì cả những người vô thần và những người hữu thần đều thừa nhận một nguyên lý duy nhất tạo thành và điều khiển vũ trụ này. Người hữu thần cho rằng nguyên lý đó phải là một nguyên lý thông minh trí tuệ, cao cả hơn cái thực tại nó tạo ra, còn người vô thân cho rằng nguyên lý đó đơn sơ thấp hèn, vô chi, vô giác. Chẳng hạn chúng ta thấy máy điện toán tối tân được bày ra trước mắt, những người Công giáo cho rằng người tạo ra cái máy điện toán thông minh và tài giỏi hơn cái máy, những người vô thần cho rằng những vật chất tạo ra cái máy chứ không phải một con người nào đó.

Bên cạnh đó đạo công giáo không phải là phản khoa học mà nó còn là cái nôi của khoa học.

Như ta đã biết tại các nước phương tây có nền khoa học phát triển mạnh vì ở đây đạo Ki tô giáo phát triển. Đối với đạo Ki tô giáo thì con người là quan trọng nhất vì Thiên Chúa cho họ quyền đứng trên vạn vật, muôn loài vì vậy họ có thể tự do tìm hiểu và nghiên cứu những gì từ vạn vật, muôn loài. Người phương Tây còn dựa vào nguyên tắc đi tìm chân lý của “Tam đoạn luận”, mọi vật sinh ra đều có nguyên nhân của nó, vũ trụ này cũng có nguyên nhân và họ đặt tên cho nguyên nhân của vũ trụ này là “Thượng Đế”.

Phần đông những nhà tiên khởi trong nền khoa học hiện nay là những người Ki tô giáo là các linh mục như:

1. Đức ông Linh Mục Georges Lemaître, JS, cha đẻ thuyết Vụ nổ lớn (Bigbang)

2. Linh mục Nicolaus Copernicus, cha đẻ thuyết nhật tâm hiện đại

3. Linh mục Gregor Mendel, cha đẻ ngành di truyền học.

4. Hunayn ibn Ishaq (c. 809-873), nhà vật lý người Assyrian, viết lại những công việc khoa học của người Hy Lạp và tác giả cuốn “Mười điều liên hệ đến Nhãn khoa.”

5. Pope Sylvester II (c.950–1003), khoa học gia và người sưu tầm sách, dậy Toán và Thiên Văn học.

6. Hermann of Reichenau (1013–1054), viết về Hình học, Toán học, và khoa “đo vị trí của tinh tú”.

7. Robert Grosseteste (c.1175–1253) người sáng lập ra những kiến thức về khoa học cho trường Oxford, viết nhiều về khoa học thiên nhiên, toán, thiên văn học, quang học, và hình học; người áp dụng phương pháp thực nghiệm để chứng minh thay vì dùng lý luận.

8. Albertus Magnus (c.1193–1280) người đầu tiên cô lập được chất độc “arsenic”

9. Nicole Oresme (c.1323–1382), Giám Mục thành Lisieux, người tìm ra nguyên tắc của sự Chiết Quang (phân tích về ánh sáng).

10. Michael Servetus (1511-1553) Người chứng minh sự tuần hoàn của phổi.

11. Anton Maria Schyrleus of Rheita (1597-1660) Nhà thiên văn học, đã dâng hiến công trình của mình cho Mẹ Maria Đồng Trinh.

Ngoài ra còn một số nhà bác học nổi tiếng khác như:

Nhà bác học Lui Paxtơ là người công Giáo, nhà thiên văn học Gallilê là người Công Giáo, Nhà bác học Newton, nhà bác học Anhxtanh… Giáo Hội Công giáo giúp hình thành và phát triển nền nghệ thuật, âm nhạc và kiến trúc phương Tây với các nhà soạn nhạc vĩ đại như Beethoven, Mozart, Bach, các họa sĩ và kiến trúc sư lừng danh mọi thời đại như Michelangelo, Bernini, Raphael, Caravaggio, Antoni Gaudí, Leonardo da Vinci, v.v

Bên cạnh đó những nước hiện nay có nền khoa học phát triển nhất trên thế giới đều là những nước có đạo Ki tô giáo phát triển như các nước Phương tây (Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức…).

Ki tô giáo còn là một tôn giáo của lý trí chứ không phải của Lề luật như Do Thái giáo. Vì vậy để biện giải những chân lý đức tin người ta vận dụng hết các khả năng về lý trí, giúp con người ta tin nhận. Trong Ki tô giáo có bộ môn thần học là dùng khả năng của con người để giải thích các hiện tượng bằng lý trí của con người, bằng chứng cứ nội tại và Thánh Kinh. Và người ta cho rằng khoa học hiện đại là con đẻ của những nhà thần học Ki tô giáo.

Con tin vào Thiên Chúa vì có Chúa Giêsu, các Tông đồ, Hội Thánh, Kinh Thánh và Chúa Thánh Thần..

Con tin vào Chúa Giêsu bởi: Chúa Giêsu là một nhân vật có thật trong lịch sử, Chúa Giêsu được sinh ra ở Bê lem, miền Giu đê và sống ở Na gia rét, miền Ga li lê là con của bà Ma ri a và ông thợ mộc Giu se thuộc chi tộc vua Đa vít, trước khi Chúa Giêsu đi giảng đạo thì người sống và làm việc tại Na gia rét với nghề thợ mộc, người đi rao giảng tại Giêsu sa lem, miền Galile… sau đó người chết trên cây thánh giá sau ba ngày người sống lại và hiện đến với các tông đồ và nhiều người khác.

Chúa Giêsu là một người có thế giá và có ảnh hưởng lớn trong lịch sử. Bằng chứng là thời điểm Chúa Giêsu sinh ra được lấy làm mốc thời gian phân định trước công nguyên và sau công nguyên. Chúa Giêsu lúc người còn sống chúng ta thấy được sự chân thật của người, người không nói dối, không kết tội và lên án ai…các điều này được ghi lại trong Kinh Thánh. Chúa Giêsu hiện nay vẫn giữ mối liên lạc với con người, để con người có thể đón nhận những ảnh hưởng của người thông qua Kinh Thánh và lời cầu nguyện của con người. Chỉ cần con người có lòng tin vào Thiên Chúa và những lời cầu nguyện của họ là chính đáng thì họ sẽ được Thiên Chúa đáp lại.

Chúa Giêsu là biểu hiện của tình yêu, người yêu thương con người thật lòng. Vì yêu thương con người Chúa Giêsu đã chịu chết trên cây Thánh Giá vì con người mặc dù người không mắc tội gì, khi người bị treo trên cây Thánh Giá người vẫn cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những người làm việc này. Chúa Giêsu có khả năng cứu giúp con người thông qua những gì đã được chép trong Kinh Thánh như việc người  Người chữa lành người lô lệ của một đại đội trưởng, Người cho La do rô sống lại… và Chúa Giêsu khẳng định người là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua người. Người còn nói “Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó”. Chúa Giêsu với sự tồn tại vững chắc trong  lịch sự nhân loại với hơn hai nghìn năm lịch sử và đến ngày nay. Càng ngày Hội thành càng phát triển nên số người tin vào Đức Giêsu ngày càng tăng thêm. Không chỉ đạo Công giáo tin vào Chúa Giêsu (hơn 2 tỷ người) mà còn các tôn giáo khác cũng tin vào Đức Giêsu như đạo tin lành, Hồi giáo…như vậy theo thống kê thì Chúa Giêsu được hơn 2/3 thế giới tin và đón nhận. Những gì được Chúa Giêsu truyền dạy, được ghi lại trong Kinh Thánh luôn luôn thích hợp với hiện tại, dù đã hơn hai nghìn năm trôi qua. Những lời này được lưu truyền và phát triển qua Hội Thánh, hiện tại số người gia nhập Ki tô giáo ngày một gia tăng. Nền tảng tạo nên niềm tin nơi Chúa Giêsu là dựa trên các sự kiện có thật đã được bày ra trước mắt, chứ không phải dựa trên các học thuyết và điều đó được thể hiện rõ nét qua các sự kiện có thật như Chúa Giêsu được sinh ra bởi Mẹ Maria, Chúa Giêsu chịu chết, Chúa Giêsu hiện ra với các Tông đồ, và nhiều người khác ở nhiều nơi.

Các Tông đồ là những người có thật trong lịch sử, họ có nơi sinh, nghề nghiệp, nơi ở, nơi hoạt động và tồn tại nhất định. Ví dụ như Thánh Phê rô được sinh ra tại Bethsaida, một thị trấn nhỏ thuộc miền Galilê, trên bờ biển Tiberia, Palestine. Ông Thánh Phê rô là anh em với ông An rê  và hai ông hành nghề đánh cá tại ở Caphanaum bên cạnh hồ Galilê.

Các vị Tông đồ là những người có ảnh hưởng lớn đến lịch sử và con người, các ngài là người trực tiếp cùng ăn, cùng ngủ, cùng sinh hoạt với Chúa Giêsu. Các ngài đã nhận quyền năng trực tiếp từ Chúa Giêsu, nhờ các ngài mà Hội Thánh của Chúa Giêsu ngày càng lớn mạnh, dù bị bách hại. Các Tông đồ khi còn sống các ngài cũng là con người như chúng ta, cũng có những yếu đuối như chúng ta nhưng khi nhận được ơn Thiên Chúa, các ngài đã can đảm làm chứng về Chúa trước mặt mọi người, các ngài vui lòng chịu chết để làm chứng cho Chúa. Ngày nay, các ngày vẫn hàng chuyển lời cầu xin của con người lên trước Thiên Chúa, di sản mà các Tông đồ để lại vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay, điển hình là các Sách Phúc Âm (Mác-cô, Lu-ca, Mat-theu, và Gio an) cùng với các thư của các tông đồ gửi các tín hữu khi các ngày còn sống trên thế gian. Không có một cuốn sách nào trên thế giới được dịch và in thành nhiều thứ tiếng như Kinh Thánh, Kinh Thánh là lời của Thiên Chúa được các Tông đồ chép lại qua sự linh ứng của Chúa Thánh Thần.

Hội Thánh được Chúa Giêsu lập ra, dù trải qua nhiều thăng trầm nhưng Hội Thánh vẫn phát triển và bền vững cho đến ngày nay. Hội Thánh tồn tại cùng với lịch sử nhân loại, và ảnh hưởng mạnh mẽ tới lịch sử của nhân loại với các đặc tính của Hội Thánh như: Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền. Thiên Chúa qua Hội Thánh người hằng đổ muôn ơn lành xuống cho thế gian, nhờ lời cầu nguyện của Hội Thánh với Thiên Chúa mà muôn người được ơn lành. Hội Thánh luôn luôn yêu thương con cái mình, luôn mong muốn mọi điều tốt đẹp nhất đến với con cái Hội Thánh. Ngày nay, Hội Thánh ngày càng phát triển mạnh mẽ và vững chắc trên nền tảng là chính Chúa Giêsu, Hội Thánh rao giảng Lời Chúa cho con cái của mình qua và thông truyền ơn Thiên Chúa qua việc cử hành Thánh Lễ hằng ngày và cử hành các bí tích.

Những lời giảng dạy của Hội Thánh đều được trích dẫn ra từ Kinh Thánh, Kinh Thánh là Lời Chúa (Kinh Thánh gồm 46 quyển Cựu ước và 27 quyển Tân Ước). Do Kinh Thánh là Lời của Thiên Chúa muốn nói với Nhân loại nên khi ta đọc Kinh Thánh ta sẽ nhận thấy được các điều mà Thiên Chúa muốn nói với mình. Qua Kinh Thánh, Thiên Chúa hướng dẫn nhân loại đi đến với Người. Kinh Thánh là những bản văn cổ nhưng luôn luôn phù hợp với hiện tại, dù cho con người có ở bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta đều có thể dựa vào Kinh Thánh để tìm được sự hướng dẫn của Thiên Chúa qua sự linh ứng của Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần là một trong ba ngôi Thiên Chúa (Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần) Chúa Thánh Thần là kết quả của Tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Thánh Thần là Khí, Nước, Lửa… luôn hướng dẫn Hội Thánh từ thủa khai sinh đến nay, Người luôn hoạt động trong mọi con người (Nếu không có tác động của Chúa Thánh Thần thì con người chẳng thể làm được gì), Người ban cho con người muôn vàn ơn phúc. Trong suốt lịch sử cứu độ, Chúa Thánh Thần luôn cùng hoạt động với Chúa Cha và Chúa Con, từ khởi đầu cho đến lúc hoàn tất chương trình cứu độ nhân loại, bởi Ngài là Thiên Chúa như Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Giêsu có nhiều lần nói tới Chúa Thánh Thần như: Trong dịp Chúa Giêsu nói chuyện với ông Nicôđêmô vào ban đêm:”Thật ,tôi bảo ông:không ai có thể vào Nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và Thánh Thần”(Ga 3,5), sau khi Chúa chữa một người bị quỷ ám vừa mù lại vừa câm,những người Pharisiêu nói rằng: “Ông này trừ được quỷ là nhờ dựa thế tướng quỷ Bêeldêbul”.Chúa Giêsu nói:”Nếu tôi dựa thế Bêeldêbul mà trừ quỷ thì các ông dựa thế ai mà trừ? Còn nếu tôi dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa (Chúa Thánh Thần) mà trừ quỷ, thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông”(Mt 12,28) và Đặc biệt,trong lời tâm sự với các tông đồ trong bữa Tiệc Ly trước khi chịu chết đề về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu đã nói nhiều về Chúa Thánh Thần. Ngài hứa sẽ xin Chúa Cha gửi Chúa Thánh Thần đến sau khi về bên Chúa Cha (x.Ga 13-17) và Ngài gọi Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo trợ, Đấng Bào Chữa (Ga 14,16;16,7). Do đó con tin là Chúa Thánh Thần là có thật và hằng hoạt động giữa chúng ta.

Bởi những điều con đã nêu ra trên đây, chỉ là một phần trong những điều mà con đã gặp, đã nghe và đã biết về Thiên Chúa và đạo Công giáo. Nhưng qua những điều này con tin thật mọi vật (hữu hình và vô hình), mọi quy luật… đều do một đấng toàn năng tạo dựng lên đó là Thiên Chúa và Người hằng yêu thương con người cũng như mọi vật hữu hình và vô hình. Người đã thương yêu con người đến mức đã ban con một của mình xuống để chuộc tội cho thế gian – đó chính là Đức Giêsu Ki tô. Chúa Giêsu đã lập lên Hội Thánh và tuyển chọn các Tông Đồ để duy trì việc rao giảng Lời Chúa cho mọi người, Lời Chúa được chép trong Kinh Thánh và đó cũng chính là Lời Thiên Chúa muốn nói với con người. Đọc Kinh Thánh chúng ta sẽ hiểu được điều Thiên Chúa muốn nói với mình qua sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Thu Tình

Bình luận
error: Content is protected !!